Thuật ngữ dùng trong hóa học (P.2) - Diễn đàn
[ New messages · Members · Forum rules · Search · RSS ]
Page 1 of 11
Forum moderator: ProfVietanh 
Diễn đàn » Hóa học đại học và sau đại học » Tiếng Anh chuyên ngành hóa học (English for Special Purposes) » Thuật ngữ dùng trong hóa học (P.2)

Thuật ngữ dùng trong hóa học (P.2)
hieu-manuNgày: Thứ năm, 2010-05-13, 10:41 AM | Tin nhắn # 1
Trung tá
Chức vụ: Chủ tịch HPChemC
Tổng số bài viết: 1031
Phần thưởng: 0
Danh tiếng: 24
Trạng thái: Offline
Phiên âm danh từ hóa học

Các tiếp tố dùng trong hóa học không có liên hệ gì nhiều tới gốc Hy-lạp và La-tinh, như ta vừa thấy ở trên (Xem Tiếp tố dùng trong Hóa học . Ngoài ra, ta cũng thấy có nhiều hiểu lầm trong quá khứ khi phiên âm các gốc định chức ra tiếng Việt.

Vấn đề then chốt trong thuật ngữ hóa học là phiên âm và thiết tưởng nên trình bày thêm ở đây. Nó sẽ cho các độc giả ngoài nước thấy quá trình giải quyết cách phiên âm, các qui luật phiên âm hiện được dùng trong nước, cách áp dụng cùng những khó khăn đã gặp phải, v.v... cũng như sẽ cho ta một dịp nhận xét vài khía cạnh của một danh pháp có hệ thống, sự quan trọng của những vần cuối trong tên hóa học.

Xin nhắc lại rằng thuật ngữ dùng trong hóa học cũng như địa chất, đặc biệt là có tính chất quốc tế rất cao và tính chất này nổi bật hơn hết so với thuật ngữ của các ngành khoa học khác.

Danh từ hóa học đại khái có thể chia ra làm hai loại lớn :
a) Một loại riêng thuộc về hóa học và có tính chất rất đặc biệt chuyên môn, đó là các tên chung hay tên riêng các nguyên tố, hợp chất, hỗn hợp và một vài tên, ý khác.
b) Một loại gồm tên những ý chung với các ngành khoa học khác, nhất là với vật lý, cơ học.

Ta chỉ bàn đến loại thứ nhất.
Ở đây, xây dựng thuật ngữ hóa học Việt nam, chủ yếu là vấn đề vay mượn một cách sáng tạo. Dùng thuật ngữ trong ngành hóa không phải chỉ là việc phiên âm nhưng ở giai đoạn đầu, chúng ta chỉ cần phiên âm theo một cách nào đó để làm thế nào có những từ để diễn tả những ý mới và cũng gợi những "từ quốc tế", dễ nhận gốc khi chúng ta đọc những tài liệu khoa học nước ngoài.
Những từ quốc tế này phần lớn là những từ của thuật ngữ hóa học của ba nước Anh, Pháp, Ðức, xây dựng theo một danh pháp có hệ thống dựa trên gốc Ấn-Âu.

Trong quá trình xây dựng thuật ngữ Việt Nam, ta đã thấy sự cọng tác của nhiều nhà khoa học tiền phong có tiếng trên "Khoa học tạp chí" do Nguyễn Công Tiễu (1931) và "Khoa học" (1942) do Nguyễn Xiển chủ trương.
Cách phiên âm thuật ngữ ra tiếng Việt được chú ý giải quyết, và trên hai báo này các quan niệm của nhiều người được trình bày.

Hoàng Xuân Hãn, cọng tác với báo Khoa học và là tác giả sách Danh từ Khoa học (1) đã chú ý nhiều đến vấn đề này và giải quyết như sau cho danh từ chuyên môn hóa học:
- tên nguyên tố : giữ một số tên thông thường như sắt (Fe), đồng (Cu) ... và dùng một số tên La-tinh (đã thành tên quốc tế) làm gốc như Nat-ri (Na), Ka-li (K) ...
- danh từ và ký hiệu cố gắng hợp nhau như Ma-nhê-si (Mg), Cê-ri (Ce), Xe-non (Xe) ...
- tên các hợp chất vô cơ dựa trên danh pháp hóa học Pháp;
- tên các hợp chất của hóa học hữu cơ dựa vào tên đặt theo các qui ước quốc tế. Ðể chỉ các hợp chất vô cơ và hữu cơ vừa nói đến, tất cả mọi âm đều được phiên, dựa vào âm là chính. Khi viết, dùng gạch nối các âm tiết (chưa viết liền các âm tiết vì cho rằng táo bạo quá, mặc dù ông rất muốn) và bỏ nhiều dấu sắc không cần thiết, thay đ bằng d, d bằng z ...
Cách viết tránh dùng phụ âm ghép nhưng thêm những vần al , il khi viết cal-ci (calcium) hay những vần ngược như al, ol, yl để khỏi nhầm với an, ôn, in.

Vài ví dụ :
Từ Việt Từ Pháp
hyt-roc-xyt sắt nhị hydroxyde de fer II
thi-ô-al-dê-hyt thioaldéhyde
a-cit phô-pho-rơ hỏa acide pyrophosphoreux
phôt-phat hai a-cit cal-ci phosphate biacide de calcium

Một số tác giả khác mạnh dạn hơn như Ngụy như Kontum (2) thì hay dùng phụ âm ghép lại vừa muốn Việt hóa những vần như al , ol , ... Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn (3) cũng như Ðào Văn Tiến (4) cũng đã dùng những nguyên tắc của Hoàng Xuân Hãn. Tuy nhiên cũng có ít sự bất đồng giữa người này và người kia và sự không nhất quán ngay của từng người. Nói chung, cách phiên âm của Hoàng Xuân Hãn đã được chấp nhận.

Ðến thời kỳ 1960, có thể mọi người đã theo qui định tạm thời (5) không được xác định rõ ràng, chỉ nói "nên phiên âm theo gốc La-tinh hay tiếng nước nào thông dụng nhất hay có ý nghĩa đúng nhất, trường hợp khó đọc, khó viết thì có thể cắt ngắn hoặc sửa đổi chút ít cho hợp với người Việt Nam". Lại có chủ trương viết liền các âm tiết cùng một số vần mới (br, cl, cr, dr, pl, pr, ps, sp, sc, st, tr; ec, el, es, al, ol, ic, yl, ad, id, od, oz) được ra đời; ngoài ra còn dùng z thay d, dùng d thay đ, thêm f thay ph, bỏ h trong gh.

Vì qui định mơ hồ nên trong những quyển danh từ xuất bản vào thời kỳ này có thể thấy nhiều cách phiên âm khác nhau :

Vài ví dụ :
Từ Việt Từ Pháp
cal-ci, calci, calxi, canxi calcium (Ca)
sul-fua, sunfua, sulfur, suyn-phua sulfure
gơ-lu-cốt, glucoz, glucoza, glucô glucose
vonfơram, uôn-pham, vônfam, wolfram wolfram
si-can-di, scandi, scăngdi, sandi scandium (Sc)
móc-phin, mocphin, morphin, mócfin, mocfin morphine

Ở miền Nam, vào thời kỳ này cũng có các tập danh từ ra đời như của Viện Ðại học Huế (1961) và các tập danh từ của bộ Danh từ khoa học (1961-1964) do Lê văn Thới chủ biên (6) trong đó có danh từ hóa học. Các qui ước phiên âm cũng được nêu ra. Nói chung, không khác những nguyên tắc của Hoàng Xuân Hãn, và tình trạng tương đối ổn định hơn.

Với hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học (1964), hội nghị trưng cầu ý kiến (1965) và đề án về qui tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt (1965), đã có những nguyên tắc chung (7), những đề nghị cụ thể tạo điều kiện để hệ thống hóa việc phiên âm. Trong những tập thuật ngữ khoa học gần đây, những nguyên tắc nói trên cũng như những kinh nghiệm đạt được ở hội nghị (tham khảo các bản báo cáo, nhất là bản báo cáo then chốt của Lưu Vân Lăng ) đã được áp dụng.

Tuy nhiên, khi đọc những từ điển (8) hay những tự điển thuật ngữ (9) xuất bản vào những năm sau đó (khoảng 1980), ta còn thấy những từ có thể đem lại sự không chính xác như :

Ethyne (tên thông thường tiếng Anh là acetylene) được phiên âm thành êtin (dãy -yne thành -in ) khi áp dụng những qui tắc mới.
Các gốc thionyl, methyl, phenyl, glycol, carbonyl được phiên âm thành thionila, metila, fenila, glicola, cacbonila có lẽ quá xa với dạng từ quốc tế.
Những qui tắc mới đã giúp giải quyết một số vấn đề nhưng nếu dùng một cách quá máy móc sẽ có hại.

Gần đây hơn (10), vần cuối "ide" vẫn được phiên âm là "it". Như vậy trong tiếng Việt một số rất nhiều từ như hai từ anilide và anilite sẽ cùng được phiên âm như anilit và sẽ gây nhầm lẫn.
Cũng may là ta đã dựa theo tiếng Pháp để đặt tên nhiều hợp chất (dùng dạng bromure, hydrure ... của tiếng Pháp thay vì bromide, hydride của tiếng Anh.)
"Wolfram" vẫn còn được phiên âm là "vonfram", như vậy không thể nhắc đến ký hiệu W.
Tại sao tiếng Việt dùng tên antimon để chỉ nguyên tố có ký hiệu Sb ?
Nếu ta dùng tên Stibi có hơn không ? (Như ta đã dùng "Natri" mà không dùng "sodium" như trong tiếng Anh và Pháp.)

Những từ được phiên âm như là thionila, metila, fenila, glicola, cacbonila những năm 80 nay lại có dạng thionyl, methyl, phenyl, glycol, cacbonyl.
Hoan hô sự trở lại gần với dạng gốc nhưng không hiểu tại sao tiếp tố -ose và -ase vẫn còn được phiên âm thành -oza và -aza ? (Lý do cũ: nguyên âm a được thêm vào sau -oz, -yl, -ol cho phù hợp với đặc điểm của tiếng Việt vì rằng các phụ âm cuối này không có trong vần ngược chữ quốc ngữ).
Và thiết nghĩ, nếu cần thêm, có lẽ nên thêm nguyên âm ơ để thành -ozơ và -azơ sẽ thích hợp hơn, ít ra sẽ gần với cách đọc quốc tế hơn.
Một số khó khăn đã được khắc phục nhưng vẫn còn nhiều điểm còn lại cần phải được xét kỹ mới mong giải quyết được. Muốn vậy, cần phải hiểu danh pháp trong mỗi trường hợp và phải có những ngoại lệ.

Ngay trong tiếng Anh hay tiếng Pháp, cũng có nhiều điều không hợp lý, và vì ta đi sau, nên có thể chú ý để tránh. (Ví dụ hai tiếp tố -in và -ine được dùng một cách khác biệt trong tiếng Anh nhưng không phân biệt được trong tiếng Pháp).

Sau đây cũng xin nêu lên vài sách báo bàn vào chi tiết các vấn đề được nêu ra ở trên để độc giả tiện tham khảo :

1. "Danh từ khoa học", Hoàng Xuân Hãn, Minh Tân, Paris (1942).
2. Ngụy Như Kontum, "Hóa học tất yếu" (Tạp chí Khoa học, số 5, 1942).
3. "Danh từ thực vật", Nguyễn hữu Quán và Lê văn Căn (1945).
4. "Danh từ khoa học, vạn vật học", Ðào văn Tiến (1945).
5. Qui định do Ban Khoa học cơ bản thuộc Ủy ban Khoa học nhà nước đề ra. (Xem Tin tức Hoạt động Khoa học, số 1 năm 1960, trang 57.)
6. Danh từ Khoa học (8 tập), Bộ Văn hóa Giáo dục xuất bản (Sài gòn, 1961-1964).
7. -Hội nghị bàn về xây dựng thuật ngữ khoa học (Hà nội, 1964).
- Dự án về qui tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt (Hà nội, 1965)
(Hai tài liệu quan trọng này đã được đăng lại trong "Về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học", Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1977).
8. Lê khả Kế , Từ điển Pháp-Việt, Paris, ACCT, 1981.
9. Xem các từ điển thuật ngữ của Nhà Xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà nội vào thời kỳ 1970-1980.
10. "Từ điển hóa học Anh-Việt ", Nguyễn trọng Biểu, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật (1991).
11. - Nomenclature of Inorganic Chemistry. - Definitive Rules for nomenclature of Organic Chemistry. IUPAC Rules, 1979 edition.
(Hai tài liệu này đã được đăng lại trong "Handbook of Chemistry and Physics", The Chemical Rubber Co., Cleveland, Ohio, 68 th edition, 1987-1988.)


Nguyễn Hữu Hiệu
SDT: 0934511477
email: hh10manu@gmail.com - hh10_manu@yahoo.com
Tài khoản
- Ngân hàng đông á
- Chủ tài khoản: Nguyễn Hữu Hiệu
- Số tài khoản: 0104213252.
 
Diễn đàn » Hóa học đại học và sau đại học » Tiếng Anh chuyên ngành hóa học (English for Special Purposes) » Thuật ngữ dùng trong hóa học (P.2)
Page 1 of 11
Search:

Powered by uCoz | Website Builder Templates | Designed by game cheats